Diễn Đàn 1080 - Diễn Đàn Hỏi Đáp, Thảo Luận, Khám Phá

Di chúc chung

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Sống với nhau đến cuối đời, đa số các đôi vợ chồng thường có ý nguyện lập di chúc chung để lại tài sản cho người thân của mình. Việc này thể hiện sự thống nhất của vợ chồng khi định đoạt tài sản chung, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người vợ hoặc chồng còn sống và ràng buộc trách nhiệm đối với những người được hưởng di sản. Tuy nhiên, trên thực tế, việc lập di chúc chung đôi khi phát sinh nhiều hệ lụy mà người trong cuộc không lường trước được…

VƯỚNG MẮC

 

Ông Hùng và bà Kế (ngụ Q.11, TP.HCM) có bốn người con chung, ba người con lớn đều đã có gia đình, có nhà cửa và cuộc sống ổn định; chỉ người con trai út còn độc thân. Năm 2005, ông bà quyết định lập di chúc để lại căn nhà thuộc sở hữu chung của vợ chồng cho người con út. Do sợ người con út thiếu trách nhiệm, không chăm sóc cha, mẹ già, nên nội dung di chúc ghi rõ: “Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng chết”, theo đúng câu chữ của cơ quan công chứng.

 

Năm 2008, ông Hùng qua đời vì bệnh nan y. Năm 2009, bà Kế bị tai nạn giao thông, liệt nửa người, việc chữa trị rất tốn kém. Ba người con lớn phải lo cho cuộc sống gia đình riêng nên đã phó mặc cho người con út. Đầu năm 2010, người con út đem hồ sơ nhà đất và tờ di chúc ra cơ quan công chứng tiến hành làm thủ tục khai nhận di sản là 1/2 căn nhà thuộc sở hữu của cha nhưng cơ quan công chứng “kết luận” là không làm được, vì đó là di chúc chung mà một bên còn sống nên chưa có hiệu lực. Bà Kế cũng muốn bán 1/2 căn nhà của bà và phần mà bà hưởng thừa kế không phụ thuộc vào di chúc của chồng, nhưng do căn nhà thuộc sở hữu chung của vợ chồng chưa phân chia, không xác định được phần của mỗi người bao nhiêu nên cơ quan công chứng cũng không có cơ sở để giải quyết. Phương án cuối cùng là bà Kế và người con út cùng đứng tên bán cả căn nhà, thì công chứng cũng không chứng thực được vì người con trai chưa được pháp luật công nhận sở hữu 1/2 căn nhà do cha chết để lại. Không chia thừa kế, cũng không bán được, người con út đem giấy tờ nhà để thế chấp ngân hàng vay tiền cũng không xong vì cơ quan công chứng không thể công chứng hợp đồng thế chấp được. Có “của” mà không được “xài”, trong khi việc chạy chữa cho người mẹ thương tật là cấp thiết, người con út phải tìm luật sư tư vấn.

 

Minh họa: NOP

 

Tương tự, anh Xuân (ngụ Q.8, TP.HCM) đang ngồi trên “đống lửa” cũng vì di chúc chung. Năm 2004, cha mẹ anh lập di chúc chung để lại căn nhà cấp bốn cho anh. Năm 2009, mẹ anh qua đời, cha anh lâm bệnh, cảnh nhà thiếu trước hụt sau. Bản thân anh không rành pháp luật, cứ nghĩ nhà có sổ hồng hợp lệ, cha và mẹ đều cho mình, thì sẽ bán được, nên đầu năm 2011 anh đã nhận tiền cọc bán căn nhà thuộc di chúc chung cho người khác, lấy tiền chữa bệnh cho cha. Đến khi ra công chứng ký hợp đồng mua bán nhà theo thỏa thuận, anh mới biết là nhà không bán được, vì di chúc chưa có hiệu lực. Bên mua tuyên bố, nếu không bán nhà thì anh phải bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc!

 

Ông Hưởng, 78 tuổi (ngụ Q.Tân Bình, TP.HCM) cũng đang vướng hệ lụy từ di chúc chung. Ông kể: “Vợ chồng tôi có tám người con chung, bảy người sống ở Việt Nam, một người sống ở Canada. Do những người con ở Việt Nam có tư tưởng tranh giành tài sản của cha mẹ, nên năm 2000, vợ chồng tôi đã lập di chúc chung để lại căn nhà cho một mình đứa con gái đang ở nước ngoài. Lúc đó, cô con gái còn độc thân và rất có trách nhiệm với cha mẹ, hàng tháng đều gửi tiền về biếu cha mẹ. Đến năm 2005, cô kết hôn với một Việt kiều, từ đó chỉ lo cho gia đình riêng, không còn quan tâm chăm sóc vợ chồng tôi nữa.

 

Năm 2006, vợ tôi qua đời, con gái tôi về Việt Nam chịu tang, rồi ôm hết giấy tờ nhà và di chúc sang Canada. Tôi rất thất vọng, nên dự định sẽ hủy bỏ không cho cô ấy hưởng thừa kế một mình nữa, mà phải chia đều cho tất cả các con. Tuy nhiên, phòng công chứng cho biết đó là di chúc chung nên không thể thay thế hoặc hủy bỏ được, chỉ có thể sửa đổi liên quan đến phần tài sản của tôi mà thôi (!)".

 

PHẢI CÂN NHẮC KỸ

 

Đa số di chúc chung của vợ chồng lập ra là để định đoạt tài sản chung, cụ thể là nhà và đất. Vì đây là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ và chồng, chưa phân định phần nào là sở hữu của mỗi người nên không thể công chứng việc mua bán, phần tài sản thuộc sở hữu của người vợ hoặc chồng còn sống được. Các câu chữ trong biểu mẫu công chứng luôn có cụm từ: “Sau khi chúng tôi qua đời thì… (tên người được chỉ định trong di chúc) sẽ được trọn quyền thừa kế”. Do vậy, khi người vợ hoặc người chồng chết trước, người kia vẫn còn sống thì di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, nên đương nhiên chưa thể tiến hành thủ tục khai nhận thừa kế hoặc thỏa thuận phân chia di sản được. Mà chưa khai nhận thừa kế, chưa xác định phần quyền sở hữu của mình thì người được hưởng di chúc vẫn chưa thể định đoạt tài sản như bán, thế chấp, tặng cho… tài sản được.

 

Trường hợp của bà Kế, để xác định phần tài sản thuộc sở hữu của mình, bà chỉ có thể làm đơn khởi kiện nhờ tòa án xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng. Tuy nhiên, việc kiện tụng khá nhiêu khê, ngoài tốn kém án phí, còn phải mất thời gian chờ đợi (trung bình từ bốn tháng đến sáu tháng) và công sức tới lui hầu tòa.

 

Liên quan đến di chúc chung pháp luật cũng có quy định: “Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất kỳ lúc nào. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia, nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình”.

 

Trường hợp của ông Hưởng, do căn nhà là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng nên về nguyên tắc, người chồng được sở hữu 50%, người vợ sở hữu 50%. Tuy nhiên, do thực tế chưa phân chia, chưa xác định cụ thể phần sở hữu của mỗi người, nên ông Hưởng chỉ có thể sửa đổi với nội dung được ghi nhận là: “Phần tài sản thuộc sở hữu của tôi trong khối tài sản chung của vợ chồng và phần di sản mà tôi được thừa kế từ vợ tôi, tôi xin sửa đổi là sau khi tôi qua đời phần tài sản này được chia theo quy định của pháp luật”.

 

Như vậy, người con gái ở nước ngoài chỉ được hưởng thừa kế theo di chúc phần của mẹ và hưởng thừa kế theo pháp luật phần di sản của cha. Bằng cách này, sẽ “lấy lại” được phần nào sự công bằng cho những đồng thừa kế khác.

 

Kinh nghiệm của các chuyên gia pháp luật hiện nay là khi lập di chúc chung, người lập di chúc nên chủ động yêu cầu công chứng viên hoặc cán bộ chứng thực của UBND có thẩm quyền ghi thêm nội dung: “Trong trường hợp vợ và chồng chúng tôi, nếu có một người qua đời trước, mà không may hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn, thì người còn sống và người thừa kế khác được quyền khai nhận thỏa thuận phân chia phần di sản của người đã mất, mà không phải đợi đến thời điểm người sau cùng mất”. Làm như vậy vừa bảo đảm ý nguyện của người chết, vừa tháo gỡ được những khó khăn về sử dụng, định đoạt tài sản của người còn sống, kể cả người được thừa hưởng theo di chúc.

 

Luật sư Huỳnh Minh Vũ

Theo: phunuonline

 

Xe hơi

Liệu BYD G3 có hấp dẫn người Việt? Liệu BYD G3 có hấp dẫn người Việt? Với giá chưa đến 400 triệu đồng, mẫu sedan hạng nhỏ BYD G3 có...
Xu hướng nào cho việc phát triển xe hơi đời mói? Xu hướng nào cho việc phát triển xe hơi đời mói?   Sự sang trọng của xe đời mới được nâng lên cùng với gi...
Phân hạng các dòng ôtô Phân hạng các dòng ôtô Không khó để xếp một chiếc xe hơi vào đúng phân khúc trên th...

Phong thủy

Chế ngự nhà tán khí dựa theo khoa học phong thủy đông phương Chế ngự nhà tán khí dựa theo khoa học phong thủy đông phương Theo các chuyên gia phong thủy, con người có thể chế ngự nhà tán...
Phong thủy với gương soi Phong thủy với gương soi   Gương soi hữu dụng trong những không gian chật hẹp vì dườ...
Nước và những giá trị Phong thủy Nước và những giá trị Phong thủy   Hành Thủy phát huy khá hiệu quả trong các công trình du lịch...